Sống trong đời sống cần có một tấm lòng

Ngũ Cung Music 01-04-2019, 11:26 AM Âm nhạc Việt Nam 403

Sống trong đời sống cần có một tấm lòng’. Lúc còn non trẻ, tôi nghĩ tiền không có, tấm lòng để làm gì? Ông Sơn nói bình thản, không lên gân, không cường điệu: ‘Thì Mai cứ sống với tấm lòng mình đi, dù chả để làm gì cả, chỉ để gió cuốn đi’. Càng ngày, tôi càng thấm và sống theo như vậy…

Khánh Ly đã chia sẻ trong các cuộc phỏng vấn về tâm sự của cô và cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như vậy. Những tâm sự này đã theo cô suốt cả cuộc đời, như cô từng khẳng định: “Từ Trịnh Công Sơn mà Khánh Ly thành danh và quan trọng hơn cả là Khánh Ly được thành nhân”.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Trước khi vĩnh biệt dương gian, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại cho đời hơn 600 bản tình ca với nhiều thể loại khác nhau, trong đó có 236 ca khúc được biết đến rộng rãi. Đó là một công trình âm nhạc đồ sộ, nhưng điều làm cho tên tuổi của ông sống mãi trong lòng các thế hệ người Việt chính là “linh hồn” trong mỗi ca khúc. Khi lời ca được cất lên, người ta tìm thấy bóng dáng cuộc đời mình trong đó. Ông viết bằng tất cả gan ruột, bằng tâm hồn, bằng triết lý và trải nghiệm.

Ngôn ngữ đã tạo nên một thế giới mới của riêng Trịnh Công Sơn, một thế giới có khi lung linh nhiều màu sắc, có khi nhòe nhạt hư ảo trong mênh mông phù du. Đó là một thế giới “lai” giữa hiện thực và mộng tưởng, giữa hiện tại và thiên thu, giữa trắng và đen, “không xa bờ và cũng không xa mịt mù”, “không xa trời và cũng không xa phận người”. Những lời ca của ông là những lời thơ thả bay theo gió, rải rác và rồi đột nhiên xếp lại thành một bức tranh lạ lùng, kỳ bí và huyền ảo. Đó là bức tranh của của một họa sĩ thường thấy mình mộng du ngay trong đời sống, và thấy đời sống trở về trong những giấc mộng xưa. 

Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ

Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao

Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ

Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu.

(Diễm Xưa)

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi 

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt 

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt 

Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.

(Một Cõi Đi Về)

Tìm em tôi tìm 

Mình hạc xương mai 

Tìm trên non ngàn 

Một cành hoa khôi 

Nụ cười mong manh 

Một hồn yếu đuối 

Một bờ môi thơm 

Một hồn giấy mới [...]

Từ nay tôi đã có người 

Có em đi đứng bên đời líu lo […]

Từ em tôi đã đắp bồi 

Có tôi trong dáng em ngồi trước sân […]

Mùa đông cho em nỗi buồn

Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông

Tàn đông con nước kéo lên

Chút tình mới chớm đã viên thành [...]”

(Đóa Hoa Vô Thường)

Ngoài những bản trữ tình lãng mạn, có những bài ca với tiết tấu rộn ràng như một lời hiệu triệu, lôi cuốn mời gọi cả cộng đồng không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo, giới tính cùng siết chặt tay vì tình người, vì tương lai dân tộc.

Rừng núi dang tay nối lại biển xa 

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà 

Mặt đất bao la, anh em ta về 

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng 

Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam.

(Nối Vòng Tay Lớn)

Nhạc sĩ Hoàng Lương nhận xét: “Mỗi lần hát nhạc Trịnh, mình như tìm thấy mình trong đó. Nghe nhạc Trịnh khiến người ta sống chậm lại, nhân ái hơn, ngẫm nghĩ việc mình làm để sống tốt hơn, có trách nhiệm hơn. Đó là trục thông điệp mà không một nhạc sĩ nào làm được. Chính vì thế trong những quán cà phê, người ta vẫn nghe nhạc Trịnh. Nghe để ngẫm về cuộc đời.”

Ngôn ngữ văn thơ trong những sáng tác của Trịnh Công Sơn đạt đến độ tinh xảo và công phu với nhiều thủ pháp, mà lại như một cuộc dạo chơi bâng quơ qua miền đất nghệ thuật. Ông đặc biệt sử dụng những hình ảnh tỉnh lược được cắt và sắp xếp lại, những câu bỏ lửng chưa vẹn ý, những cách nói và dùng chữ lạ không lẫn với bất cứ ai.

Những nét tinh tế như thế tạo nên một độ chênh làm cho con người tác giả hiện ra trong một thế giới riêng đặc biệt, làm cho những hình ảnh mang những ý nghĩa riêng biệt tùy trí tưởng tượng của người thưởng ngoạn. 

Ngọn gió hư hao thổi suốt chiêm bao 

Rồi tình trong im tiếng 

Rồi tình ngoài hư hao 

Về đây thân xác hư hao 

Đêm đêm nằm nghe lá 

Than van chút niềm đau ngọt ngào.

(Vết Chân Dã Tràng)

Ở cuộc sống đời thường, từ “hư hao” có nghĩa thật tầm thường, không mang một nét thơ nào, như khi người ta nói về đồ đạc bị hư hao. Ở thơ Trịnh Công Sơn, nó đã được cho những thuộc tính mới và trở thành từ ngữ trong thi ca.

Có chút bồi hồi trong phút chia ly 

Có những mặt người không yêu là vì 

Có những cuộc đời hết sức ngây ngô [...]”

(Bay Đi Thầm Lặng)

“Không yêu là vì.” Là vì sao? Không thấy Trịnh Công Sơn trả lời.

Từ khi em là nguyệt 

Cho tôi bóng mát thật là.

(Nguyệt Ca)

Bóng mát như thế nào? Chúng ta có thể hỏi. Nhưng hình như Trịnh Công Sơn muốn hỏi lại rằng “Nói ra quá rõ như thế để làm gì?”. Dường như khoảng cách giữa những nốt nhạc, nỗi lửng lơ sau mỗi lời thơ, sự lặng im không nói nên lời, những điều đó đối với ông còn quan trọng hơn cả ca từ.

"Nhiều khi sự im lặng lại là điều quan trọng dành cho nhau. Cứ nghĩ đến nhau đi, trong im lặng."

Khánh Ly từng chia sẻ về nỗi niềm sâu kín của Trịnh Công Sơn: “Mình nhớ người nào đó, không nhất thiết phải khóc lóc, kêu gào hay than thở, lăn lộn. Nhiều khi sự im lặng lại là điều quan trọng dành cho nhau. Cứ nghĩ đến nhau đi, trong im lặng. Đối với tôi, như ông Sơn nói: ‘Mỗi ngày như mọi ngày’. Ngày nào cũng giống nhau, nỗi nhớ cũng vậy, ngày nào cũng nhớ.”

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác năm 17 tuổi với bài Sương Đêm và Sao Chiều, và Ướt Mi là tác phẩm đầu tiên của ông được xuất bản năm 1959. Năm 1961 vì bắt buộc phải trốn lính, ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn và sau đó dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. 

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Năm 1964, tại Đà Lạt, định mệnh đã cho Khánh Ly và Trịnh Công Sơn gặp nhau trong một đêm mưa, tuy chỉ là một cuộc gặp gỡ giản dị, bình thản song đã trở thành khoảnh khắc lịch sử không chỉ riêng của hai người nghệ sĩ mà còn của nền âm nhạc nước nhà.

Như một sự tình cờ, Khánh Ly gặp lại Trịnh Công Sơn giữa dòng người tấp nập ở Sài Gòn vào một buổi chiều năm 1967. Kể từ đây, hai người chính thức đi hát với nhau ở Quán Văn trên sân cỏ trường Đại học Văn khoa Sài Gòn và rồi khắp nơi trên đất nước Việt Nam. Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca Dao Mẹ, Ngủ Đi Con. 

Tên tuổi của ông không chỉ gắn liền với những bản tình ca mà còn nổi tiếng với nhạc phản chiến - một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình, sau này được gọi là Ca khúc da vàng. Ông bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1966, khi ông cho ra đời tập Ca Khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca Khúc Da Vàng.

Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch và bị cấm trình diễn tại Việt Nam cho đến tận một thời gian dài sau 1975, nhưng không thể phủ nhận rằng tên tuổi của ông đã trở nên nổi bật nhờ vào dòng nhạc này.

Trịnh Công Sơn và Hồng Nhung

Nhạc Trịnh được nhiều ca sĩ thuộc nhiều thế hệ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly và Hồng Nhung. Ngoài ra, ông còn là một nhà thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên. Cả cuộc đời Trịnh Công Sơn dành hết cho âm nhạc và nghệ thuật, nhưng ông chỉ coi mình là một người viết ca khúc, giống như một lữ khách tạm dừng chân ở chốn trần gian để yêu, để sống, để hát, để rồi hóa thành “cát bụi”. 

098-186-6699 Hỗ Trợ Kỹ Thuật 24/24
Loading image Loading